Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí
Ngày 01/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Nghị định quy định một số nội dung cụ thể như sau:
1. Quy định rõ ràng đối tượng bị xử lý kỷ luật và trách nhiệm bồi thường
1.1. Đối tượng bị xử lý kỷ luật: Gồm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách; và cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
1.2. Đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Là người trực tiếp thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại.
2. Định mục hóa cụ thể các mức kỷ luật hành chính theo tính chất, mức độ vi phạm
Nghị định quy định rất chi tiết cách áp dụng các hình thức kỷ luật đối với từng nhóm đối tượng:
2.1. Đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu khi thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra lãng phí trực tiếp: (i) Khiển trách: Áp dụng nếu hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. (ii) Cảnh cáo: Áp dụng nếu hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm. (iii) Cách chức: Áp dụng nếu hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
2.2. Đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí: (i) Khiển trách: Vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 50 triệu đến 75 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp giảm nhẹ; hoặc thực hiện hành vi không ban hành, chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí, gây lãng phí. (ii) Cảnh cáo: Đã bị khiển trách mà tái phạm (trừ trường hợp bị xử lý hình sự) hoặc vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng. (iii) Cách chức (đối với người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý): Đã bị cảnh cáo mà tái phạm; hoặc gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng chưa đến mức buộc thôi việc/bãi nhiệm, đồng thời có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc trường hợp được giảm nhẹ. (iv) Buộc thôi việc (đối với công chức, viên chức): Đã bị cách chức (đối với lãnh đạo, quản lý) hoặc cảnh cáo (đối với người không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) mà tái phạm; hoặc vi phạm lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc trường hợp tăng nặng.
3. Xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để định lượng giá trị thiệt hại thực tế
Một trong những điểm mới quan trọng nhất của Nghị định này là quy định cực kỳ chi tiết phương pháp xác định giá trị thiệt hại bằng tiền làm căn cứ bồi thường đối với từng hành vi gây lãng phí cụ thể (từ Điều 10 đến Điều 22), bao gồm:
Hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước: Xác định theo số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu tư được phê duyệt (sau khi loại trừ nguyên nhân khách quan), hoặc toàn bộ kinh phí đã chi khi thực hiện văn bản ban hành trái chủ trương, pháp luật.
Hậu quả gây thất thoát ngân sách, nguồn vốn quỹ tài chính ngoài ngân sách: Tính theo số kinh phí chi sai mục đích, đối tượng, định mức; số kinh phí tạm ứng không thể thu hồi; vốn đầu tư công vượt mức phê duyệt; hoặc phần công trình sai quy định phải phá dỡ/không thể nghiệm thu bàn giao (sau khi trừ giá trị thu hồi).
Hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ: Thiệt hại được tính dựa trên số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình dừng thi công do lỗi cố ý.
Hậu quả liên quan đến tài sản công: Xác định rõ chi phí phá dỡ công trình, giá trị tài sản bị mất/hư hỏng không thể sửa chữa, phần hao hụt vượt định mức, chi phí phát sinh tăng thêm để bảo quản, vận hành, sửa chữa do không xử lý kịp thời, hoặc giá trị hao mòn, khấu hao tài sản cố định trong thời gian tài sản công không được đưa vào sử dụng do lỗi của người quản lý.
Hậu quả thất thoát tài nguyên, năng lượng; mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp; giảm thu ngân sách: Xác định dựa trên giá trị tài nguyên bị khai thác trái phép/suy giảm theo giá công bố hoặc phương pháp định giá; phần vốn nhà nước thực tế bị mất/giảm dựa trên báo cáo tài chính được kiểm toán; toàn bộ nguồn thu ngân sách bị giảm đi theo pháp luật về đất đai, quản lý thuế.
4. Nguyên tắc xử lý bồi thường thiệt hại nhân văn và thực tế
Phân chia trách nhiệm rõ ràng: Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người; trường hợp không xác định được mức độ trách nhiệm riêng thì chia đều cho từng người.
Quy định việc nộp tiền bồi thường nhiều lần: Được áp dụng khi số tiền bồi thường từ 15.000.000 đồng trở lên và người đó đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế (thời hạn nộp nhiều lần thông thường không quá 12 tháng, trường hợp đặc biệt khó khăn/hộ nghèo có thể xem xét tối đa không quá 24 tháng).
Cơ chế khấu trừ lương: Nếu hết thời hạn mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì sẽ bị khấu trừ 20% tiền lương thực trả hàng tháng (sau khi đã trích nộp bảo hiểm bắt buộc và thuế thu nhập cá nhân).
Quy định cụ thể các trường hợp và thời gian tạm hoãn thực hiện bồi thường: Đối với người đang điều trị tại bệnh viện (hoãn tối đa 06 tháng, riêng bệnh hiểm nghèo thì theo thời gian điều trị thực tế); phụ nữ nghỉ thai sản (hoãn tối đa theo thời gian nghỉ thai sản); gia đình hộ nghèo/cận nghèo/khó khăn; người đang bị tạm giam, tạm giữ (hoãn bằng thời gian tạm giam, tạm giữ).
Chấm dứt hiệu lực khi người vi phạm chết: Trường hợp người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chết thì quyết định về bồi thường thiệt hại sẽ chấm dứt hiệu lực tại thời điểm người đó chết.
5. Điều khoản chuyển tiếp rõ ràng
Đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng đang được xem xét, xử lý sau ngày Nghị định có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định này nếu có lợi cho cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật.
Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Xem toàn văn Nghị định số 267/2026/NĐ-CP tại đây./.