DetailController

Một số điểm mới chi tiết tại Nghị định 37/2026/NĐ-CP về ghi nhãn và quản lý chất lượng hàng hóa

Ngày 23/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành, đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong việc quản lý nhãn hàng hóa, đặc biệt là việc tích hợp công nghệ số so với Nghị định 43/2017/NĐ-CP và Nghị định 111/2021/NĐ-CP. Dưới đây là một số những điểm mới nổi bật:

1. Cuộc cách mạng về Nhãn điện tử, Vật mang dữ liệu, Hộ chiếu số của sản phẩm:

Nghị định 37/2026/NĐ-CP lần đầu tiên chuẩn hóa khái niệm và cách thức vận hành nhãn hiện đại:

- Theo khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP:

+ Định nghĩa Nhãn điện tử: là nhãn hàng hóa dưới dạng điện tử được thể hiện thông qua vật mang dữ liệu được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc, gắn, hiển thị trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.

+ Vật mang dữ liệu: là phương tiện mã hóa thông tin hoặc mã hóa đường dẫn đến dữ liệu sản phẩm, hàng hóa (mã vạch, QR, Datamatrix, RFID, NFC và các phương thức phù hợp khác).

- Theo Điều 32 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP:

+ Hộ chiếu số của sản phẩm: Đây là một khái niệm hoàn toàn mới, bao gồm các thông tin tối thiểu như tên sản phẩm, mã GTIN, thông tin xuất xứ, truy xuất nguồn gốc và các chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy được thiết lập dưới dạng dữ liệu điện tử.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng hộ chiếu số của sản phẩm thay thế cho nhãn điện tử trong trường hợp hộ chiếu số của sản phẩm có đầy đủ các nội dung ghi nhãn bắt buộc trên nhãn điện tử theo quy định tại Nghị định này.

Căn cứ yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa và thông lệ quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình áp dụng hộ chiếu số của sản phẩm đối với các sản phẩm, hàng hóa cụ thể.

- Theo khoản 1 Điều 52, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP:

+ Quyền sử dụng: Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa được sử dụng nhãn điện tử để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bắt buộc, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 và pháp luật chuyên ngành quy định bắt buộc ghi bằng nhãn vật lý. Việc sử dụng nhãn điện tử phải bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về truy cập, lưu trữ và minh bạch thông tin theo quy định tại Chương này.

2. Phân loại rủi ro hàng hóa để áp dụng biện pháp quản lý:

- Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro:

+  Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;

+ Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;

+ Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường.

- Lưu ý: Các Bộ ngành sẽ ban hành Danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và cao kèm mã HS để kiểm soát chất lượng từ ngày 01/7/2026.

3. Quy định về Nhãn phụ và Nhãn điện tử

- Theo khoản 2, 3 Điều 40 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP:

+ Hình thức nhãn phụ: Nhãn phụ phải được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm của hàng hóa và không được che khuất những nội dung bắt buộc của nhãn gốc theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nhãn phụ có thể được thể hiện bằng nhãn điện tử theo quy định tại Chương IV Nghị định này, nhưng phải giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa và phải chỉ dẫn rõ để người tiêu dùng nhận biết.

+ Nội dung nhãn phụ: Nội dung ghi trên nhãn phụ là nội dung dịch ra tiếng Việt từ các nội dung bắt buộc ghi trên nhãn gốc và bổ sung các nội dung bắt buộc khác còn thiếu theo tính chất của hàng hóa theo quy định tại Nghị định này. Tổ chức, cá nhân ghi nhãn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung ghi. Nội dung ghi trên nhãn phụ gồm cả nội dung được ghi bổ sung không làm hiểu sai nội dung trên nhãn gốc và phải phản ánh đúng bản chất và nguồn gốc của hàng hóa.

4. Hệ thống giám sát và Nền tảng số quốc gia

- Theo Điều 8, 9 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Chính phủ thiết lập hạ tầng số để quản lý chất lượng xuyên suốt:

+ Nền tảng số thống nhất: Phục vụ quản lý từ tiêu chuẩn, quy chuẩn đến mã số mã vạch, nhãn điện tử, truy xuất nguồn gốc và hộ chiếu số.

+ Hệ thống giám sát quốc gia: Sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sớm các sản phẩm có dấu hiệu vi phạm hoặc nguy cơ mất an toàn.

* Cảnh báo sớm: Cơ quan quản lý sẽ thiết lập hệ thống tiếp nhận phản ánh, khiếu nại qua nền tảng điện tử, kết nối trực tiếp với hệ thống giám sát quốc gia.

5. Trách nhiệm mới trong kinh doanh trực tuyến

- Theo khoản 5 Điều 41 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm:

+ Công khai toàn bộ nội dung nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có), trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy trên nền tảng thương mại điện tử;

+ Khai báo, cập nhật chính xác thông tin hàng hóa lên hệ thống bán hàng theo quy định pháp luật về thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng;

+ Bảo đảm hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng phải có nhãn hàng hóa theo đúng quy định.

- Theo khoản 2 Điều 69 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm:

+  Bảo đảm chất lượng hàng hóa do mình cung cấp phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;

+ Thiết lập, vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng hàng hóa;

+ Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến chất lượng hàng hóa khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;

+ Thực hiện lưu giữ hồ sơ, tài liệu liên quan đến chất lượng hàng hóa tối thiểu 03 năm kể từ thời điểm hàng hóa được đưa ra lưu thông, trừ trường hợp hàng hóa có thời hạn sử dụng dài hơn thì phải lưu giữ ít nhất bằng thời hạn sử dụng;

+ Phối hợp với cơ quan kiểm tra chất lượng, cơ quan quản lý thị trường trong việc kiểm tra, truy xuất, xử lý vi phạm về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.

6. Hàng hóa không bắt buộc ghi nhãn thương phẩm

- Theo khoản 2 Điều 35 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Những loại hàng hóa sau đây không thuộc trường hợp phải ghi nhãn hàng hóa theo quy định tại Nghị định này:

+ Bất động sản;

+ Hàng hóa tạm nhập tái xuất; hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; hàng hóa trung chuyển; hàng hóa nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba;

+ Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh; tài sản di chuyển;

+ Hàng hóa mang theo người nhập cảnh để tiêu dùng cá nhân, quà biếu, quà tặng trong định mức được miễn thuế nhập khẩu; hàng hóa nhập khẩu thuộc diện ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

+ Hàng hóa bị tịch thu bán đấu giá;

+ Hàng hóa là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng;

+ Hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thủy sản, khoáng sản), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh), vật liệu xây dựng không có bao bì và được bán trực tiếp cho người tiêu dùng;

+ Hàng hóa đã qua sử dụng;

+ Hàng hóa là chất phóng xạ, năng lượng điện, hàng hóa sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy, đường không.

- Theo khoản 3 Điều 35 Nghị định 37/NĐ-CP: Hàng hóa là dạng rời, chất lỏng, khí, không có bao bì thương phẩm đựng trong thùng đựng hàng, hầm tàu chứa hàng, xi téc không cần ghi nhãn hàng hóa nhưng phải có hồ sơ, tài liệu kèm theo thể hiện đầy đủ các nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt theo quy định tại Nghị định này và các quy định pháp luật liên quan để thay thế cho nhãn hàng hóa.

Trường hợp hồ sơ tài liệu kèm theo bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt, phải có bản dịch ra tiếng Việt kèm theo.

7. Điều khoản thi hành

(i) Các quy định hết hiệu lực kể từ ngày 23/01/2026:

Khoản 3, 6, 7 Điều 1 Nghị định số 13/2022/NĐ-CP ngày 21/01/2022 của Chính phủ;

- Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa;

- Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ.

(ii) Các Nghị định, quy định hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026:

- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

- Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ;

- Nghị định số 13/2022/NĐ-CP ngày 21/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008, Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ và Nghị định số 86/2012/NĐ-CP ngày 19/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đo lường.

Điều 4 Nghị định số 154/2018/NĐ-CP ngày 09/11/2018 của Chính phủ;

- Điều 2 Nghị định số 67/2009/NĐ-CP ngày 02/8/2009 của Chính phủ;

(iii) Từ ngày 23/01/2026 đến hết ngày 30/6/2026, việc phân loại sản phẩm, hàng hóa thành nhóm 1, nhóm 2 và việc áp dụng các biện pháp quản lý đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 1, nhóm 2 tiếp tục được thực hiện theo các văn bản quy định tại khoản 2 Điều 97.